Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Phân loại vật (Phần 1)

Vật trong tự nhiên rất phong phó và đa dạng, Tùy thuộc vào giá trị, các đặc tính tự nhiên cũng như xã hội, ý nghĩa pháp lý của chúng trong giao lưu dân sự người ta phân biệt các loại vật khác nhau. Ngoài việc phân loại thành bát động sản và động sản, BLDS còn có những cách phân loại sau đây.


-Hoa lợi và lợi tức.

Dựa vào các căn cứ khác nhau trong việc "gia tăng tự nhiên" của tài sản, Điều 175 BLDS dã phân chia thành hoa lợi và lợi tức.

Hoa lợi là những sản vật tự nhiên cố tính chất hữu cơ do tài sản mang lại cho chủ sở hữu. Ví dụ: Hoa quả của c&y, trứng do gia cầm đẻ ra, gia sức nhỏ do mẹ chúng sinh ra. Lợi tức được coi là một khoản lợi mà chủ sở hữu thu được từ việc khai thác cổng dụng của tài sản. Thông thường, lợi tức được tính ra thành một số tiền nhất định. Ví dụ: Khoản tiền thu được từ việc cho thuê nhà, tiền lãi thu được từ việc cho vay tài sản.

-Vật chính và vật phụ

Trên phương diện vật lý, các vật này cố thể tách rời nhau nhưng giá trị và ý nghĩa kinh tế thì một vật chỉ có thể cố giá trị khi đi kèm với vật kia. Vật chính là vật độc lập, cố thể khai thác cổng dụng theo tính năng. Ví dụ: Máy ảnh là vật chính còn vỏ máy ảnh là vật phụ. Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rồi vật chính. Ví dụ: Bộ phận điều khiến từ xa của tivi, video; các dụng cụ (đổ nghé) đế sửa chữa ô tô. Theo nguyên tác chung, vật chính và vật phụ là đối tượng thống nhất, nếu các bên không cố thoả thuận gì khác, thì vật phụ phải đi kèm vật chính khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính. Tuy nhiên, các bên có thể thoả thuận khác: chỉ vật chính hoặc vệt phụ mà thôi. Đương nhiên, không thể coi là vật phụ nểu bản thân nó là một bộ I phận cấu thành của vật chính, như lốp ô tô đang sử dụng của một cái ô tô, nhưng lốp để dự phòng xe lại có thể được coi là vật phụ.

- Vật chia được và vật không chia được :

Vật chia được là những vật khi được phân chia ra thành các phần nhò, thì mỗi phần đó vẫn giữ nguyên các tính chất I ban đầu và giữ nguyôn tính năng sử dụng của vật đó. Ví dụ: Xăng, dâu, gạo cổ thể phân chia thành nhiéu phấn khác nhau nhưng vẫn giữ nguyôn được tính chất và tính năng sử dụng. Vạt không chia được là những vật khi phân chia thành những phần nhỏ, nó không giữ được tĩnh chất và tính nâng sử dụng ban đầu. Ví dụ: Giường tủ, đồng hồ, xe máy, xe đạp... Những vật không chia được khi buộc phải chia thì phải trị giá bằng tiền để chia. Người nào giữ vột phải trả cho người kia số tiền cố giá trị tương đương với phần của họ.


Trong quan hệ dân sự, việc phân loại vật chia được và  không chia được mang tính tương đối. Các đối tượng của quan hệ dân sự trong trường hợp này là vật không chia được nhưng trường hợp khác là vật chia được. Ví dụ nhà ở và đất đai. Khi phân chia di sản nếu nhà ở và đất ở chia ra được thành hai hay nhiéu phần mà các chù sở hữu đéu sừ dụng được thì nhà ở và đất ờ là vật chia được....

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Dịch vụ làm giấy phép lao độngtư vấn sang tên sổ đỏ. sang tên sổ đỏ cần làm gì

Khái niệm bất động sản và động sản

Bất động sản và động sản là hai tiêu chí để phân loại tài sản trong quyền sở hữu.


Khái niệm bất động sản và động sản tương đối phổ biến và được ghi nhận hẩu hết trong các bộ luật theo hệ thống pháp luật thành văn (dựa theo nguyên tắc của hệ thống pháp luật La Mã cổ đại). Chịu sự ảnh hưởng của dân luật các nước phương Tây, trực tiếp là Bộ dân luật Pháp, Các bộ luật dân sự như: Dân luât Bắc kỳ 1931, Hoàng Việt Trung kỳ bộ luật 1936 Bộ dân luật của chế độ Việt Nam Cộng hòa ban hành năm 1972 ghi nhận bất động sản có ba loại sau đây:

Loại thứ nhất gồm những vật không thể chuyển dời do bản chất của tự nhiên: nhà cửa kiên cố; tường rào; hàng rào; ao, hồ, hào, rãnh, sông đào và lòng sông; đê, đập và các cồng trình xây đắp khác để chắn nước; rừng, núi và cây cối mọc liền trên đất; mỏ và nhũng khoáng sản .chưa đào lấy lên; hoa lợi, mùa màng đã chín mà chưa gặt hái.

Loại thứ hai là những động sản đươc xem như là bất động sản nhằm muc đích làm tăng giá tri cho bất dông sản:. Gia súc để cày bừa, tư liệu dùng để sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; hạt giống, phân tro dùng để canh tác nông nghiệp; cá trong ao, ong trong tổ, chim trong chuồng; những trang thiết bị gắn liền với nhà, xưởng và những đồ trang trí nội thất.

Loại thứ ha gốm các quyền đối với bất động sản, trong đó các vật quyền bất dộng sẩn: quyền sở hữu; quyền dụng ích; quyền cư ngụ và hành dụng; quyền thuê truòng kỳ; quyền địa dịch; quyẻn thế chấp; quyền để đương. Ngoài các quyên trên còn có các tố quyền nhằm truy sách một vật quyền trên bất động sản.

Về dộng sản các Bộ dân luật trên cũng quy định: động sản lả tất cả những tài sản khống phải là bất 'dộng sản bao gồm: những quyền có được với động sản và những quyền truy sách trên một động sản; những cổ phần trong một doanh nghiệp; những trái quyền trong một giao dịch dân sự, tiền các loại.
Trước ngày ban hành BLDS, trong hệ thống pháp luật của chúng ta rất ít khi sử dụng khái niệm bất động sản và động sản. Trong pháp luật kinh tế chúng ta chỉ sử dụng khái niệm tài sản cố định để phân biệt vói tài sản lưu động. Tài sản lưu động là những tài sản dừng trong quá trình sản xuất được chuyển toàn bộ giá trị của nó vào thành phẩm trong một lần.

1.Bất động sản là các tài sản bao gồm;

a,         Đất đai;

b,         Nhà, công trình xây dựng gắn tiền vớt đất dai, kể cả các tài sản gắn tiền với nhà, công trình xây dựng

c,         Các tài sản khác gắn liền vớt đất đai;

d,         Các tài sản khác do pháp luật quy định,

2. Động sản là những tài sản không phái là bất động


Với cách phân loại trên đáp ứng được các yếu tố thực tiễn. Bất động sản chủ yếu là đất đai (không thể chuyến dịch cơ học được), nhà ở, công trình xây dựng, các tài sắn gắn liền với đất đai. Theo quy định của BLD thi đấy là tài  tài sản cần được đăng ký. Dựa vào thuộc tính tự nhiên, luật quy định như vậy nhằm bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của những cơ quan nhà nước cố thẩm quyền,.

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Dịch vụ làm giấy phép lao độngtư vấn sang tên sổ đỏ. sang tên sổ đỏ cần làm gì

Khái niệm tài sản

Tài sản - với tính cách là khách thể quyên sở hữu - đã được Điều 163 BLDS xác định như sau: 'Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản".Vật có thực chính là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí).
Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó (vật chất) của con người. Tuy nhiên, không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật.

Ví dụ: Không khí trong tự nhiên, nước suối, nước sông, nước biển... không được coi là vật. Nhưng nếu đóng vào bình nước, hay được làm nóng, làm lạnh... lại được coi là vật.
Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con ngưòi, vật có thực vdi tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đăc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự.

Do sự phát triển của khoa học, công nghệ, khái niệm vật trong khoa học pháp lý cũng được mở rộng.
Ví dụ: Phần mềm trong máy tính hoặc chất thải nếu sử dụng làm nguyên liệu sẽ được coi là vật, nhưng bình thường không được coi là vật.

Những vật có thực là tài sản không chỉ là những vật tồn tại hiện hữu mà còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắc chắn sẽ có. Điều 175 BLDS đã xác định loại tài sản này là: hoa lợi và lọi tức. Đây chính là sự gia lãng của tài sản trong nhũng điều kiện nhất định. Tương tự, tĩén và nhũng loại giấy tờ trị giá được bằng tiền cũng được xác định là những loại tài sản có tính chất đặc biệt.

Cần phân biệt tài sàn với khái niệm hàng hóa trong khoa học chính trị I kinh tế học Oà sản phản do con người tạo ra có giá trị và giá trị sử dụng). Giá trị của hàng hóa được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra dể sản xuất hàng hóa đó. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên ỉà vật (tài sàn) nhung không phải hàng hóa vì không gắn vối lao dộng xã hội. Vì vậy, khái niệm tài sản có phạm vi ngoại diện rộng hơn khái niệm hàng hóa.

Ngoài những vật có thực, tiền— tài sản còn được xác đinh là quyền tài sản theo quy định tại Điều 181 BLDS: "Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dán sự, kể cả quyền sỏ hữu trí tuệ”.

Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng ỉà quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thục hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu nguời khác phải thục hiện một nghĩa vụ đem lại lại ích vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là quyền tài sản (vật quyền). Quyền yêu cầu người khác thục hiện nghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản.. Trên cơ sở quan niệm như vậy, Luật La mã phân loại quyền tài sản (quyền dân sự) thành vật quyền và trái quyền mà không phân thành quyền tài sản và quyền sở hữu .Vì suy cho cùng quyền sở hữu tài sản cũng ỉà quyền tài sản.

Điều 181 BLDS quy định quyền tài sản là quyền trị giá bằng tiền. Theo quy định này, Nhà lập pháp muốn nói tới quyền đối nhân, tức là quyền của một chủ thể đối với một chủ thể khác và quyền này trị giá bằng tiền.

Vậy, theo quy định tài Điều 181, thì quyền tài sản là quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ có giá trị bằng một khoản tiền nhất định như trả nợ, bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu người khác chuyển giao giá trị của một vật. Ví dụ quyền yêu cầu thanh toán giá trị tài sản chung.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lỷ của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phạm vi tài sản với tính cách là khách thể của quyên sở hữu -là không hạn chế. Chúng bao gồm toàn bộ các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội. Nghĩa là quyền sở hữu có thể được xác lập với bất kỳ một loại tài sản nào, miễn là pháp luật không cấm lưu thông dân sự.

Để mở rộng giao lưu dân sự trong điều kiện nền kinh tế thị trường, riêng đối với loại tài sản đặc biệt là đất đai, Luật đất đai và Luật dân sự cho phép những người không phải là chủ sở hữu nhưng cũng có một số quyền năng nhất định theo quy định tại Phần thứ năm BLDS.

Trong cơ chế thị trường, tài sản vô hình đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học- kỹ thuật, sản xuất hàng hoá, bảo vệ an ninh quốc phòng của một quốc gia. Vì vậy pháp luật bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể đối với các sản phẩm trí tuệ của con người tạo ra - một loại tài sản vô hình”. Trong BLDS Phần thứ sáu quy định về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Đây là những quy định có tính nguyên tấc trong việc bảo vệ các quyền nhân thân và quyển tài sản của các chủ thể tham gia quan hệ sở hữu trí tuệ. Theo nguyên tắc chung, tác giả các tác phẩm văn học nghệ thuật, các đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh, chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ có các quyền chiếm hữu, sử dụng và đinh đoạt các đối tượng sở hữu trí tuệ và được pháp luật về sở hữu bảo hộ các quyền đó.


Quyền sở hữu trí là quyền của cá nhân của tổ chức đối với sản phẩm trí tuệ của mình trong các hoạt động vãn hoá, nghê thuật, trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chuyển giao cồng nghệ...các quan hệ này tương đối phong phú và phức tạp, cho nên để điểu chỉnh các quan hệ này một cách toàn diện, Nhà nước ta đã xây dụng Luật sở hữu trí tuệ. Vì vậy trong chương trình cử nhân luật sẽ có môn học mới là môn sở hữu trí tuệ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Dịch vụ làm giấy phép lao độngtư vấn sang tên sổ đỏ. sang tên sổ đỏ cần làm gì

Phân loại vật (Phần 2)

-Vật tiêu hao và vật không tiêu hao:

Về phương diện vật lý, mọi vật khi sử dụng đều bị hao mòn (tiêu hao). Trong pháp lý, vật tiỏu hao là những vật khi qua một lán sử dụng thì mất đi hoặc không thể nguyên được hình dáng, tính chất và tính năng sờ dựng ta dâu. Nó giảm trọng lượng hoặc đã biến đổi sang vật khác. Ví dụ: Phim ảnh, xi măng, vỡi, cổt, Xăng dầu, Vì vậy vật tiêu hao không thể là hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng chớ mượn Vật không tiêu hao là những vật mà khi đã qua quá trình sứ dụng nhiêu lâu mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hỉnh dáng vằ tính năng sứ dụng ban đầu của vật. Ví dụ: Nhà ở, các loậí xc và mây móc, các công cụ khác...

-Vật cùng loại và vật đặc định

Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và thường được xác định hằng những đơn vị đo lường như kg, m, lít... Ví dụ: Xăng dấu cùng loại gạo, xi mãng cùng loại của một nhà máy sản xuất... Vật cồng loệỉ có cùng chất lượng có thể thay thế được cho nhau. Theo nguyên tấc chung, nếu vật cùng loại bị tiêu huỷ có thể thay thế nố bằng vật cùng loại khác. Vạt đặc định là những vật có thể phân biệt với vật khác bàng các dấu hiệu đạc trưng riồng biệt của vật đó vẻ ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, dặc tính, vị trí. Trong vật đặc định, người ta xác định vật độc nhát (không có vật thứ hai) và vật đặc định hóa. Khi vật dặc định độc nhất bị tiêu huỷ, thì không thể thay thế bâng vật khác, quan hệ pháp luật vé sở hữu đối với vật cũng chấm dứt. Vi dụ: Bức tranh cổ của một họa sỹ, các loại đổ cổ quý hiếm v.v. Còn vật được đặc định hốa là trong các vật cùng loại người ta tách nó ra bằng một dấu hiệu do con người đặt ra: Đánh dấu đồ vật bàng những ký hiệu riêng biệt, lứa đóng vào bao riêng, thực phẩm để trong những dụng cụ riêng. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật độc định, thi phải chuyển giao đúng vật đó.

- Vật đồng bộ là một tập hợp các vật, mà chỉ cò đầy đủ nó k mới có giá trị sử dụng đầy đủ: Bộ bàn ghế, bộ tem thư, bộ L tranh, các thiết bị đổng bộ... Tập hợp các vật phải liến hộ với 1 nhau thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các I bộ phận hoặc cố phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, 1 chủng loại, thông số kỹ thuật, thì không sử dụng được hoặc Ị giá trị sử dụng của vật đố bị giảm sút. Cố thể coi là vật đồng 1 bộ là những vật cố "đôi":Đồi giầy, đôi dổp, đôi găng tay... Theo nguyên tắc chung, vật đồng bộ là đổi tượng thổng nhất trong các giao dịch dân sự. Vì vậy khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ, thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành vật đồng bộ. Tuy nhiên,các bên có thể thoả thuận từng vật trong "bộ" đố để chuyển giao riêng biệt: Một cái ghế hoặc chỉ một cái bàn.

-           Quyền tài sản:

 Theo quy định của Điéu 163, 181 ĐLDS, thì quyền tài sản cũng được coi là tài sản nhưng cổ tính chất đặc thù. Chỉ những quyển nào (quyén yêu cầu) trị giá được

'ịbằng tiển và cố thể chuyển giao cho người khác trong giao lưu dân sự thì mới được coi là quyén tàỉ sản. Nghĩa là, nố cố I thể trở thành đối tượng của một hợp đồng dân sự cụ thể. VI I vậy, Điều 181 BLDS còn quy định: Quyến sở hữu trí tuộ quy định tại phần thứ sáu ĐLDS cũng là quyền tài sản.


-           Ngoài ra, năng lượng được xem là một loại "vật"đặc biệt. Nó không cố hình dạng và khổng thể quan sát được nếu không cố những phương tiện kỹ thuật chuyôn dừng. Việc chiếm hữu và chuyển giao được thực hiện theo một phương thúc riêng. Nó được coi ỉà vật cùng loại được xác định bằng ki lô oáựgiờ và là đỏì tượng trong các hợp đồng cung úng điện năng.

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Dịch vụ làm giấy phép lao độngtư vấn sang tên sổ đỏ. sang tên sổ đỏ cần làm gì

Chủ thể của quyền sở hữu

Quan hệ pháp luật dân sự vé sử hữu cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác bao gồm những yếu tố cấu thành quan hệ đó: Chủ thể, khách thể và nội dung quyền sở hữu.
Việc phân tích các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật dân sự vé sở hữu dưới dạng cụ thể, riêng biệt có ý nghĩa cho việc nghiên cứu từng yếu tố khi phải xem xét chúng trong những  trường hợp cu thế. Trên thưc tế ba yếu tố trong đây thường có mối quan hộ khăng khít, biện chứng, bởi thiếu một trong các yếu tố đố, thì không thể hình thành quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu.

Chủ thế của quyền sở hữu là những người tham gia quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu.

Để trở thành chủ sở hữu, trong một số trường hợp pháp luật dân sự quy đinh phải có những điều kiện nhất định. Đối vói công dân, để trở thành chủ sở hữu phải có năng lực pháp luật và trong một số trường hợp phải có năng lực hành vi.

Mặt khác, có những tài sản BLDS quy định chỉ thuộc quyền sở hữu của nhũng chủ thể riêng biệt như: Điều 200 BLDS quy định: Tài sản thuộc sở hữu nhà nước bao gần đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có vốn từ ngân sách nhà nước, núi sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất.

Đối với những tài sản vồ hình (quyền sở hữu trí tuệ), thì chủ thể quyền sở hữu là những "người" được pháp luật dân sự công nhận. Đó là chủ sở hữu tác phẩm báo gổm: tác giả, các đồng tác giả, cơ quan tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả, cá nhân hoặc tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả, người thừa kế theo di chúc hoặc người thừa kế theo pháp luật cùa tác giả... (Quy định tại Điều 740 BLDS). Trong quyền sở hữu công nghiệp, chu sở hữu có thể được xác nhận theo văn III bằng bảo hộ.

Người có tên trong văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp là chủ sở hữu và có quyền sở hữu đối với sáng chế, giải pháp hữu ích. kiểu dáng công nghiệp, nhăn hiệu hàng hóa v.v. được xác lập theo văn bằng bảo hộ.

Các chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ có các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoat theo quy định tại phán thứ sáu BLDS.

Do tính chất và đặc trưng cùa quan hệ pháp luật vẻ sở hữu nên một bên chủ thể luôn được xác định và có các quyến nâng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình, còn chủ thể phía bên kia là tất cả những thành viên trong xã hội. Những thành viên này chưa được xác định cụ thể nhưng họ có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền năng của chủ sở hữu. Nghĩa vụ này được thể hiện ở việc không được xâm phạm đến các quyền của chủ sò hữu dưới dạng hành động hoặc không hành động. Ví dụ: Không được xâm phạm trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Người thuê nhà không được tự ý sửa chữa hoặc làm thay đổi kiến tróc nhà khi chủ sở hữu chưa đồng ý. Nếu bên thuê nhà vi phạm cố thể bị bên cho thuê nhà đơn phương đình chỉ thực hiện họp đồng theo quy dinh tại khoản 1, Điều 498 BLDS.


Ngoài ra, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, pháp luật còn quy đinh các thành viên trong xã hội khống được tiến hành những hành vi khác làm cản trở việc thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu.

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Dịch vụ làm giấy phép lao độngtư vấn sang tên sổ đỏ. sang tên sổ đỏ cần làm gì

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2016

Quá trình thay đổi pháp luật về quá trình sở hữu (P 4)

Giai đoạn 1992 đến nay

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mói toàn diện ở đất nước ta đã đạt được những thành tựu bước đầu vô cùng quan trọng, nhất là những năm đầu của thập kỷ 90. Để đáp ứng nhu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay, Quốc hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1980. Hiến pháp sửa đổi (được Quốc hội thông qua ngày 15/4/1992) đã kế thừa những quy định của các bản Hiến pháp trước đây và đã xác nhận chế độ kinh tế của nước ta bao gồm ba hình thức sở hữu chủ yếu.


Điều 15 - Hiến pháp sửa đổi 1992 ghi nhận: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sỏ hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong  đó sở hữu toàn dẩn và sở hữu tập thể là nền tảng".

Với xu thế phát triển của một nền kinh tế đa dạng, Hiến pháp sủa đổi 1992 đã xác nhận sự tổn tại của hình thức sở hữu tu nhân, nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại và phát triển. Để tạo điểu kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, Nhà nước chủ trương cho các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân phát triển với nhiều hình thức tổ chúc kinh doanh đa dạng. Mức độ và phạm vi của sở hữu tu nhân ngày càng được mở rộng. Điều 21 của Hiến pháp sủa đổi năm 1992 đã quy định: "Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhãn được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt dộng trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh".

Tuy nhiên, Nhà nước vẫn luôn luôn xác định vai trò "nền tàng” của hình thúc sờ hữu toàn dân và sở hữu tập thể; xác định kinh tế quốc doanh (thuộc sở hữu toàn dân) phải là thành phẩn kinh tế giữ vai trò chù đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Đối với việc sở hữu tư liệu sản xuất quan trọng là đất đai, Hiến pháp sửa đổi 1992 vẫn tiếp tục khẳng định: "Nhà nước thống nhai quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đám sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả" (diểu 18). So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp sửa đổi năm 1992 có quy định cụ thể về việc sử dụng đất. Đó ià: Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; người sử dụng được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật

Quy định trẽn đây của Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc sửa đổi Luật đất đai năm 1987. Quyền sỏ dụng đất đã được coi là một quyền tài sản có giá trị và có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Tinh thần trẽn của Hiến pháp sủa đổi nám 1992 đã được cụ thể thành nãm quyền của người sử dụng đất trong Luật đất đai 1993 là: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyển sử dung đất Sau này khi ban hành BLDS năm quyền cơ bản trên dây cũng được thu hút vào phần thứ năm của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005.

Thành tựu lập pháp cao nhất trong lĩnh vực sở hữu đó ỉà các quy đinh vé tài sản và quyền sở hữu tại phần thứ hai BLDS. Vói các quy định tương đối đầy đủ và hoàn thiện về sở hữu chắc chắn sẽ tạo ra nhũng tiền đề thuận tiện cho việc ổn định và phát triển các quan hệ hàng hóa tiền tệ trong nền kinh tế thị trường nhiêu thành phần có sự quản ỉý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các quy định cụ thể vé tài sản và quyền sở hữu ương phần thứ hai BLDS là những "chuẩn mực” pháp lý ổn định, tạo ra hành lang pháp lý an toàn có hiệu lực pháp luật cao sẽ hướng cho quan hệ tài sản phát triển trong một môi trường ổn định và thuận lợi.


Nhìn lại những quy định pháp luật về sở hữu trong giai đoạn từ 1992 đến nay chúng ta thấy ràng pháp luật về sở hữu nói riêng và pháp luật vế dân sự nối chung của Việt Nam đã xích lại gần pháp luật các nước, phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế. Pháp luật về sở hữu ổn định, cổ giá trị pháp lý cao sẽ là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đều này có ý nghía vô cùng quan trọng khi giao lưu quốc tế này càng mở rộng và nước ta đã chính thức trở thành thành viện chính thức của hiệp hội ASEAN.
Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Dịch vụ làm giấy phép lao động

Quá trình thay đổi pháp luật về quá trình sở hữu (P 3)

Giai đoạn 1980 -1992

Để đáp ứng với yêu cầu và phù hợp với tình hình cách mạng trong giai đoạn này, năm 1980 Quốc hội đã ban hành bản Hiến pháp mới. Hiến pháp năm 1980 ghi nhận những định hướng chiến lược và trở thành cơ sở pháp lý để xây dựng hệ thống pháp luật nối chung và pháp luật về sở hữu nói riêng.


Là luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp 1980 đã ghi nhân phạm vi và bản chất của sở hữu Nhà nước mà các bản Hiến pháp 1946, 1959 chưa quy định. Đó là việc khẳng định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, hám mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trinh phục vụ lợi ích công cộng; hộ thống đường sắt, đường bộ, đường không... đều thuộc sở hữu toàn dân (Điều 19 Hiến pháp năm 1980).

Đản Hiến pháp 1980 đã ghi nhận các chế độ sở hữu đang tồn tại ờ nước ta bao gồm các hình thức: Sở hữu Nhà nước hay côn gọi là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, và sở hữu cùa công dân (quy định trong các điều 18, 19, 23, 24,27). Hiến pháp 1980 còn quy định một cách cụ thể về các loại khách thể của những hình thức sở hữu nhất định và ưu tiên cho hai hình thức sở hữu được xác định là sở hữu then chốt. Điều 18 của Hiến pháp đã quy định: 'Thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa vê tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nên kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dán và thành phẩn kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động".

Nhằm cụ thể hóa việc thực hiện Hiến pháp nên các văn bản pháp luật về sở hữu trong những năm đầu của thập kỷ 80 vẫn tiếp tục thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trong việc thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa. Theo quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật đã quy định việc giao quyền sử dụng đất đai (gồm cả đất rừng, đát thổ canh.,.) cho người sử dụng để khai thác giá trị của đất nhưng phải bảo đảm quyền quản lý của Nhà nước:

Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ vể việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước; Quyết định số 184/HĐBT ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Hội đống Chính phủ) về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây, gây rừng.
Đặc biệt, từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng,Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về sở hữu.

Pháp luật về sở hữu giai đoạn này đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu trong các trường hợp cụ thể; đã xử lý đúng đắn vấn đề lợi ích nên đã trở thành động lực thúc đẩy giao lưu dân sự trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước phát triển manh mẽ. Vỉ dụ:Pháp lệnh về thừa kế ngày 10/9/1990; Pháp lệnh về nhà ờ ngày 26/3/1991; Luật đất đai năm 1987; Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 11/2/1989...


Ngoài ra, dưới góc độ lập pháp cũng cần phải thấy rằng lP   hiệu lực pháp lý của các văn bản pháp luật về sở hữu ban hành trong thòi kỳ 1980 - 1992 cao hơn so với thời kỳ trước năm 1980, do đó tính ổn định cao hơn. Điều này đă tạo ra tâm lý yên tâm và tin tưởng ở sự bảo hộ của pháp luật đối với các quan hệ sở hữu. Qua quá trình áp dụng trong thực tế, các văn bản pháp luật về sở hữu giai đoạn này đã phản ánh đúng quy luật khách quan và có tính khả thi nên phần lớn được thu hút vào Luật đất đai sửa đổi và BLDS.
Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : Dịch vụ làm giấy phép lao động