Thừa kế với ý nghĩa là
một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã
hội loài người. Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết
cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do
nhũng phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định. Nghiên cứu
về thừa kế, Ang nghen viết: 'Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết
tộc chỉ kể vê bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được
thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải đề lại trong thị tộc, vì
tài sân để lại không có giá trị lớn, nêu lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta
vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những
người cùng huyết tộc với người mẹ".
Quyền thừa kế hiểu theo
nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản.
Quyền chủ quan này phải phừ hợp với các quy định của pháp luật nói chung và
pháp luật về thừa kế nói riêng.
Thừa kế với tư cách là
một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất
định. Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt
tài sản của mình cho người khác. Những người có quyền nhận di sản họ có thể nhận
hoặc không nhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Đối tượng của
thừa kế là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người đã chết để lại
(trong một sô' trường hợp người để lại tài sản có thể chỉ để lại hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản). Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân
người đã chết không thể chuyển cho những người thừa kế (tiền cấp dưỡng...) vì
pháp luật quy định chỉ người đó mới có quyền được hưởng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét